Hội chứng lật ngửa ở vịt là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có tốc độ lây lan nhanh, gây rối loạn thần kinh nghiêm trọng, khiến vịt mất kiểm soát vận động, giảm mạnh sản lượng trứng và dẫn đến tử vong. Nếu không có biện pháp phòng ngừa và xử lý kịp thời, bệnh có thể gây thiệt hại nặng nề cho người chăn nuôi.
Đặc điểm bệnh
Hội chứng lật ngửa ở vịt là một bệnh truyền nhiễm mới xuất hiện tại Việt Nam, gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi vịt và ngan. Bệnh còn được gọi là hội chứng giảm đẻ, do làm giảm sản lượng trứng nghiêm trọng. Đặc biệt, bệnh gây ra các rối loạn thần kinh đặc trưng, khiến vịt và ngan mất khả năng giữ thăng bằng, nằm ngửa với chân quẫy đạp trong không khí – từ đó có tên gọi hội chứng lật ngửa ở vịt.
Nguyên nhân gây bệnh
Hội chứng lật ngửa ở vịt do virus Tembusu (thuộc họ Flaviviridae, giống Flavivirus) gây ra. Đây là một loại virus RNA có khả năng lây lan nhanh và gây tổn thương nghiêm trọng đến hệ thần kinh, gan và hệ sinh sản của vịt, ngan.
Con đường lây nhiễm
Lây qua đường tiêu hóa và hô hấp: Virus xâm nhập vào cơ thể vịt qua thức ăn, nước uống nhiễm mầm bệnh hoặc qua không khí khi hít phải giọt bắn chứa virus từ vịt bệnh.
Lây qua côn trùng: Muỗi, ruồi, ve và các côn trùng khác đóng vai trò trung gian truyền bệnh từ đàn vịt mắc bệnh sang đàn vịt khỏe mạnh.
Lây qua dụng cụ chăn nuôi và phương tiện vận chuyển: Người chăn nuôi, dụng cụ chuồng trại, phương tiện di chuyển nếu không được vệ sinh sát trùng cẩn thận có thể mang virus từ nơi có dịch sang đàn vịt khỏe.
Triệu chứng lâm sàng
Ở vịt con (3 – 7 tuần tuổi, tương đương 16 – 45 ngày tuổi)
- Bệnh thường gặp chủ yếu ở vịt con từ 3 đến 7 tuần tuổi, với mức độ lây lan nhanh và diễn tiến phức tạp.
- Giai đoạn đầu, vịt có biểu hiện chảy nước mũi, chán ăn đột ngột, kèm theo giảm hoạt động rõ rệt.
- Ngay sau đó, vịt xuất hiện triệu chứng tiêu chảy, nhưng phân có dạng phân lỏng, màu xám hoặc trắng, không có chất nhầy như các bệnh do ký sinh trùng máu gây ra.
- Bệnh nhanh chóng tiến triển với các biểu hiện thần kinh đặc trưng
- Rối loạn vận động: đi đứng không vững, dáng đi khập khiễng, chân dang rộng để giữ thăng bằng.
- Run giật cơ, đặc biệt ở vùng đầu và cổ.
- Mất kiểm soát tư thế: khi bị kích thích hoặc xua đuổi, vịt dễ dàng bị ngã, nằm ngửa bụng, đầu vặn vẹo theo nhiều hướng, hai chân cử động giống như đang bơi trong không khí.
- Do mất khả năng ăn uống và kiệt sức nhanh, vịt suy nhược nghiêm trọng và tử vong.
- Tỷ lệ mắc bệnh rất cao, thường vượt 90%, trong khi tỷ lệ tử vong dao động trong khoảng 5 – 30%, có thể cao hơn nếu có sự bội nhiễm với các tác nhân gây bệnh khác.

Ở vịt dò (trên 2 tháng tuổi)
- Biểu hiện bệnh lý ở nhóm vịt trên 2 tháng tuổi tương đồng với vịt con, nhưng thường có diễn biến cấp tính hơn, nghiêm trọng hơn.
- Vịt đột ngột bỏ ăn, lờ đờ, mệt mỏi, kèm theo sốt cao và tiêu chảy nặng.
- Mất điều hòa vận động rõ rệt: Đi lại khó khăn, dễ ngã.
- Nằm ngửa bụng, hai chân đạp mạnh như động tác bơi nhưng không thể lật lại được.
- Dần dần, cơ thể suy kiệt dẫn đến tử vong.

Tỷ lệ tử vong dao động từ 5 – 15% nếu không có bội nhiễm, tuy nhiên, các cá thể sống sót thường mang di chứng thần kinh, chậm lớn và còi cọc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất chăn nuôi.
Ở vịt đẻ
- Triệu chứng ban đầu thể hiện rõ nhất qua giảm lượng thức ăn tiêu thụ và sản lượng trứng sụt giảm đột ngột.
- Tiếp theo, vịt xuất hiện tiêu chảy phân xanh, cơ thể nhanh chóng suy nhược.
- Khi bệnh tiến triển nặng, vịt có biểu hiện mất kiểm soát vận động, đi lại bất thường, nặng hơn có thể bị bại liệt hoàn toàn.
- Dịch bệnh thường bùng phát và kéo dài từ 7 – 10 ngày, với tỷ lệ tử vong trong đàn dao động 5 – 15%.
- Những con vượt qua giai đoạn nguy hiểm thường có thể trạng yếu, giảm năng suất sinh sản, gây tổn thất kinh tế lớn cho người chăn nuôi.
Bệnh tích
Bệnh tích ở vịt con và vịt dò
- Não và màng não luôn có những biểu hiện đặc trưng như viêm, phù nề, xuất huyết điểm hoặc xuất huyết lan rộng. Các mao mạch bị ứ máu, tụ huyết dẫn đến tắc mạch, có thể quan sát rất rõ ràng.
- Tim có kích thước to, mềm nhão do cơ tim bị thoái hóa và hoại tử, xuất hiện các vân hoại tử trắng, mạch máu bị tụ huyết.
- Gan sưng to, có màu nhạt hoặc hơi vàng.
- Lách cũng trong tình trạng sưng lớn, viêm xuất huyết kèm theo hoại tử.
- Đường tiêu hóa bị viêm xuất huyết nghiêm trọng, biểu hiện rõ qua xuất huyết dạ dày tuyến, bong tróc niêm mạc dạ dày cơ, viêm xuất huyết lan rộng ở ruột, đặc biệt là đoạn tá tràng.
- Tụy bị viêm với các dấu hiệu phù nề, xuất huyết điểm và hoại tử.
- Trong khoang ngực và khoang bụng có nhiều dịch thẩm xuất màu nâu vàng.
Bệnh tích ở vịt đẻ
Buồng trứng viêm xuất huyết nghiêm trọng, bị thoái hóa kéo dài, dẫn đến việc một số trứng non, thậm chí cả nang trứng bị vỡ, gây tắc đẻ hoàn toàn. Trong một số trường hợp, vịt có thể chết đột ngột do viêm phúc mạc cấp tính khi trứng non bị vỡ trong cơ thể.
Ống dẫn trứng thường xuyên bị viêm, ban đầu có biểu hiện phù nề và xuất huyết, sau đó chuyển thành viêm mủ hoại tử, khiến ống dẫn trứng bị teo nhỏ và trở nên rắn chắc hơn bình thường.
Biện pháp kiểm soát bệnh
Trong bối cảnh hiện tại, chưa có vaccine chính ngạch nhập khẩu để phòng bệnh hội chứng lật ngửa ở vịt. Do đó, nhiều loại vaccine không chính ngạch xuất hiện trên thị trường với hiệu quả chưa được kiểm chứng. Vì vậy, người chăn nuôi cần chủ động thực hiện các biện pháp an toàn sinh học như vệ sinh, sát trùng chuồng trại định kỳ và chăm sóc tốt đàn vịt.
Khi chưa có dịch:
An toàn sinh học là yếu tố quan trọng giúp phòng tránh bệnh Tembusu cũng như các bệnh truyền nhiễm khác. Người chăn nuôi cần tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc sau:
- Hạn chế người lạ vào khu vực chăn nuôi, đặc biệt là thương lái, khách tham quan, để giảm nguy cơ lây nhiễm mầm bệnh.
- Xây dựng hàng rào bảo vệ quanh khu vực chăn nuôi, có cổng ra vào riêng và khu vực khử trùng.
- Bố trí hệ thống kiểm soát vệ sinh, bao gồm bể sát trùng cho phương tiện và hố sát trùng cho người trước khi vào khu vực nuôi vịt.
- Chia khu vực chăn nuôi thành các khu riêng biệt: khu nuôi vịt con, vịt hậu bị, vịt đẻ và khu cách ly vịt bệnh để dễ dàng kiểm soát dịch bệnh.
- Người chăm sóc vịt cần thay trang phục bảo hộ riêng biệt khi vào chuồng nuôi và thực hiện vệ sinh tay chân bằng dung dịch sát khuẩn.
- Sát trùng chuồng trại định kỳ là biện pháp quan trọng giúp tiêu diệt mầm bệnh có trong môi trường. Người chăn nuôi cần: Phun sát trùng toàn bộ chuồng trại, khu vực xung quanh và dụng cụ chăn nuôi ít nhất 1-2 lần/tuần bằng dung dịch sát trùng chuyên dụng như ALL CID WSP.
- Sau mỗi lứa nuôi, cần tổng vệ sinh chuồng trại, quét dọn phân, rác thải và tiến hành sát trùng nhiều lần trước khi thả lứa vịt mới, khoảng cách mỗi lứa nuôi ít nhất 2 tuần.
- Định kỳ thay lớp lót nền chuồng nuôi, có thể sử dụng đệm lót sinh học để hạn chế vi khuẩn và virus phát triển. Xử lý chất thải đúng quy trình bằng phương pháp ủ sinh học hoặc thu gom định kỳ nhằm tránh ô nhiễm môi trường.
Khi dịch xảy ra:
Phát hiện sớm các dấu hiệu bệnh và nhanh chóng cách ly những con vịt có biểu hiện ốm yếu, tránh để lây lan sang toàn đàn. Cần theo dõi sát sao để kịp thời xử lý, đồng thời tiêu hủy những con bị bệnh nặng theo đúng quy định nhằm hạn chế nguồn lây nhiễm.
Sau khi dịch bệnh xảy ra, chuồng trại cần được vệ sinh và sát trùng kỹ lưỡng. Để đảm bảo tiêu diệt hoàn toàn mầm bệnh, nên để trống chuồng ít nhất từ 1,5 đến 2 tháng trước khi tái đàn. Trong thời gian này, thực hiện các biện pháp cải tạo môi trường như phát quang bụi rậm, khơi thông cống rãnh, tiêu diệt côn trùng trung gian truyền bệnh.
Tiến hành phun thuốc sát trùng ALL CID WSP trực tiếp lên đàn vịt mỗi ngày một lần trong suốt quá trình điều trị. Đồng thời, phun sát trùng định kỳ toàn bộ khu vực chăn nuôi, bao gồm chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi, lối đi và khu vực xung quanh để loại bỏ triệt để virus, ngăn chặn nguy cơ tái bùng phát dịch bệnh.
Hạ sốt bằng ACETYL C với liều 1g/15kg thể trọng. Thuốc có tác dụng hạ sốt nhanh, giảm đau, kháng viêm kéo dài từ 18-24 giờ, hiệu quả đặc biệt với vịt bị sốt cao do virus.
Tăng cường miễn dịch và sức đề kháng cho đàn vịt bằng IMUNO ANTIVIRUS:
- 1ml/1 lít nước uống, ngày dùng 2 lần sáng và chiều.
- Hỗ trợ điều trị: dùng kết hợp với kháng sinh 1ml/1 lít nước uống, dùng liên tục từ 5-7 ngày.
- Sản phẩm này giúp kháng virus, ngăn chặn sự nhân lên của virus, chống bội nhiễm vi khuẩn, giảm hao hụt và giúp vịt hồi phục nhanh hơn.
Hỗ trợ chức năng gan và tái tạo tế bào bằng AMINO PHOSPHORIC với liều 1g/10kg thể trọng trong 5-7 ngày liên tục.
Đây là sản phẩm giải độc gan thận cấp, giúp tái tạo mô gan sau 36 giờ, mô thận sau 72 giờ.
Sản phẩm chứa đầy đủ dưỡng chất, không cần bổ sung thêm thuốc bổ trợ khác.
Kết luận
Hội chứng lật ngửa ở vịt là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, lây lan nhanh, gây thiệt hại lớn. Khi chưa có vaccine chính ngạch, người chăn nuôi cần tuân thủ nghiêm ngặt an toàn sinh học, kiểm soát dịch bệnh chặt chẽ. Phát hiện sớm, cách ly kịp thời và điều trị đúng cách giúp giảm tổn thất, bảo vệ đàn vịt và duy trì hiệu quả chăn nuôi.
——————————————
Hơn 20 năm hình thành và phát triển ALL WAYS tự hào là thành viên của MEBIPHA, MEBI GROUP
CÔNG TY TNHH ALL WAYS – Sản phẩm thuốc thú y dẫn đầu hiệu quả kinh tế.
Hotline: 0982.672.372
Facebook: https://www.facebook.com/allways.asia
Website: https://allways.asia/
Địa chỉ VP: 965/36/9A Quang Trung, P.14, Q. Gò Vấp, Tp. HCM




